Thành ngữ Hán Việt
Phú quý sinh lễ nghĩa
“Phú quý sinh lễ nghĩa” là thành ngữ Hán Việt: giàu sang rồi thì sinh ra nhiều lễ nghi, hình thức; thường chê sự bày vẽ.
Trang 16/43 · Về ô tra câu
Thành ngữ Hán Việt
“Phú quý sinh lễ nghĩa” là thành ngữ Hán Việt: giàu sang rồi thì sinh ra nhiều lễ nghi, hình thức; thường chê sự bày vẽ.
Thành ngữ Hán Việt
“Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” là thành ngữ Hán Việt: trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa; người cùng loại, cùng tính nết tìm đến nhau.
Thành ngữ Hán Việt
“Môn đăng hộ đối” là thành ngữ Hán Việt chỉ hai gia đình ngang nhau về địa vị, giàu nghèo, theo quan niệm hôn nhân xưa.
Thành ngữ Hán Việt
“Mã đáo thành công” là thành ngữ Hán Việt dùng làm lời chúc: ngựa đến là thành công, mong mọi việc nhanh chóng thành công.
Thành ngữ Hán Việt
“Lực bất tòng tâm” là thành ngữ Hán Việt: sức không theo kịp lòng mong muốn, muốn làm mà không đủ sức. Tòng = theo.
Thành ngữ Hán Việt
“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” là thành ngữ Hán Việt: có duyên thì dù cách nghìn dặm cũng gặp được nhau.
Thành ngữ Hán Việt
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là thành ngữ Hán Việt: lấy cái không đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi.
Thành ngữ Hán Việt
“Cửu huyền thất tổ” là thành ngữ Hán Việt chỉ tổ tiên nhiều đời của dòng họ; cửu là chín, thất là bảy.
Thành ngữ Hán Việt
“Đồng cam cộng khổ” là thành ngữ Hán Việt: cùng nhau chia sẻ lúc sung sướng lẫn lúc khó khăn. Cam = ngọt, khổ = đắng.
Thành ngữ Hán Việt
“Đồng sàng dị mộng” là thành ngữ Hán Việt: cùng giường khác mộng, tức ở cùng, làm cùng nhưng suy nghĩ, mục đích khác nhau.
Thành ngữ Hán Việt
“Tích tiểu thành đại” là thành ngữ Hán Việt: gom góp từng chút nhỏ sẽ thành cái lớn. Tiểu = nhỏ, đại = lớn.
Thành ngữ Hán Việt
“Sơn hào hải vị” là thành ngữ Hán Việt chỉ món ăn ngon, quý hiếm từ núi rừng và biển cả. Sơn = núi, hải = biển.